Phóng viên: Thưa ông, kinh nghiệm quốc tế cho thấy mọi nền kinh tế duy trì được tăng trưởng bền vững đều có điểm chung: khu vực kinh tế tư nhân trong nước phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò trung tâm. Vậy nước ta đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tái thúc đẩy tăng trưởng, trong đó việc phát triển khu vực tư nhân ra sao?
Ông Trần Quốc Hà: các chính sách mới trong Nghị quyết 68, Nghị quyết 139/NQ-CP và các hành động của Chính phủ đã đề ra nhiều hướng tiếp cận nguồn lực. Cụ thể: Về tiếp cận đất đai, tái khai thác quỹ đất công chưa sử dụng; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, công nghệ cao, khởi nghiệp sáng tạo thuê đất khu công nghiệp với diện tích tối thiểu; Với tiếp cận vốn, cần đa dạng hóa kênh tín dụng, tạo điều kiện cho khối kinh tế tư nhân tiếp cận được nguồn vốn, khơi thông thị trường trái phiếu doanh nghiệp, sửa luật để mở rộng đối tượng được hỗ trợ và đơn giản hóa thủ tục vay vốn. Có như vậy, khối doanh nghiệp tư nhân mới có cơ hội để tiếp cận nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động, tăng trưởng.
Phóng viên: Vậy dưới góc độ là người quản lý nhà nước lĩnh vực ngân hàng, “rào cản” được “tháo gỡ” cụ thể như thế nào, thưa ông?
Ông Trần Quốc Hà: Tại Nghị quyết số 68-NQ/TW, nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể cho doanh nghiệp tư nhân đã được Quốc hội thông qua. Đặc biệt, theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2% khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Đây là các nội dung quan trọng nhằm tháo gỡ vướng mắc lớn của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, gồm nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, đang hạn hẹp nguồn lực, khó khăn khi vay vốn, nhất là nguồn vốn đầu tư vào các lĩnh vực chi phí cao, dài hạn.

Phóng viên: Thưa ông, nếu những nút thắt được tháo gỡ, cơ cấu tín dụng sẽ dịch chuyển như thế nào?
Ông Trần Quốc Hà: Trong số các nhiệm vụ, giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân, giải pháp về đẩy mạnh và đa dạng hóa nguồn vốn cho kinh tế tư nhân có thể ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của các ngân hàng trong giai đoạn tới.
Cụ thể, yêu cầu ưu tiên một phần nguồn tín dụng thương mại cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, startup, chuyển đổi xanh… có thể làm thay đổi mục tiêu phát triển tín dụng của các ngân hàng trong giai đoạn tới.
Theo đó, các ngân hàng sẽ đứng trước áp lực dịch chuyển cơ cấu dư nợ sang nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), bằng cách mở rộng giới hạn dư địa tín dụng cho nhóm DNNVV nhiều hơn, từ đó cơ cấu tín dụng cũng sẽ tiếp tục chuyển dịch dần sang các phân khúc bán lẻ.
Thực tế, mục tiêu đẩy mạnh tín dụng dành cho DNNVV thường xuyên được nêu ra trong những năm gần đây, nhưng kết quả vẫn chưa thật sự đạt được như kỳ vọng. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối năm 2024, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp tư nhân đạt khoảng 6,91 triệu tỷ đồng, tăng 14,72% so với năm 2023, chiếm khoảng 44% dư nợ tín dụng nền kinh tế.
Tuy nhiên, dư nợ tín dụng với DNNVV chỉ đạt 2,74 triệu tỷ đồng, chỉ tăng 10,7% so với cuối năm 2023 và chỉ chiếm 17,6% dư nợ tín dụng nền kinh tế. Nay với tinh thần của Nghị quyết 68, có lẽ DNNVV sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp cận tín dụng từ hệ thống ngân hàng.
Phóng viên: Nghị quyết 68 yêu cầu Nhà nước có cơ chế hỗ trợ lãi suất và khuyến khích các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp tư nhân để triển khai các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG), theo ông, các ngân hàng nên có giải pháp quản trị ra sao?
Ông Trần Quốc Hà: Để làm được điều này, các ngân hàng không chỉ phải tìm cách quản lý chi phí vốn hiệu quả hơn, tăng thu nhập phí để bù đắp, mà còn phải thiết kế các gói tín dụng xanh với giá vốn phù hợp.
Chính sách cho vay của các ngân hàng cũng sẽ chịu tác động và “khẩu vị rủi ro” cũng sẽ phải có những thay đổi nhất định. Cụ thể, Nghị quyết 68 khuyến khích các tổ chức tài chính, tín dụng cho vay dựa trên cơ sở thẩm định phương thức sản xuất kinh doanh, phương án mở rộng thị trường đầu ra, cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị, xem xét các tài sản bảo đảm bao gồm cả động sản, tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai và hình thức cho vay tín chấp.
Điều này buộc các ngân hàng phải đẩy mạnh đầu tư vào các mô hình chấm điểm tín dụng phi tài sản thế chấp; sử dụng trí tuệ nhân tạo, học máy và dữ liệu lớn để xử lý các dữ liệu hiệu quả dùng để chấm điểm tín dụng khách hàng. Các dữ liệu đầu vào quan trọng như dữ liệu thuế, thanh toán tại các POS hay hóa đơn điện tử sẽ được ưu tiên sử dụng, vì vậy các ngân hàng sẽ cần tăng cường hợp tác ứng dụng Open API với Cục Thuế, các cổng thanh toán quốc gia.
Nghị quyết 68 cũng nhắc đến giải pháp kết nối, chia sẻ thông tin giữa các hệ thống ngân hàng, thuế và các cơ quan có liên quan, bảo đảm liên thông, chia sẻ dữ liệu về tình hình hoạt động và tài chính của doanh nghiệp, đánh giá tình hình, mức độ tín nhiệm và chấm điểm tín dụng của doanh nghiệp từ phía các tổ chức tín dụng, các quỹ tài chính và các tổ chức xếp hạng tín dụng thứ 3 để tăng cường cho vay đối với DNNVV, hộ kinh doanh.
Phóng viên: Xin chân thành cảm ơn ông!